Bó bột

PHÒNG NGỪA TAI BIẾN DO BÓ BỘT

Lượt xem: 3416
PHÒNG NGỪA TAI BIẾN DO BÓ BỘT
PHÒNG NGỪA TAI BIẾN DO BÓ BỘT

 

Để giảm thiểu tối đa các tai biến của bó bột chúng ta phải:

1. Thăm khám kỹ ngƣời bệnh trƣớc khi bó bột

1.1. Tình trạng toàn thân

- Tình trạng chung:

+ Tri giác (dựa vào thang điểm Glasgow, ở người bình thường:15 điểm):

để tránh tình trạng thầy thuốc mải nắn bó bột, người bệnh hôn mê dẫn đến tử

vong mà không biết, hoặc nắn gây đau dẫn đến hậu quả người bệnh nặng lên về

toàn thân.

 + Mạch, huyết áp, có biểu hiện mất máu trong hay không: nếu mạch

nhanh nhỏ, khó bắt; huyết áp thấp hoặc khó đo, da niêm mạc nhợt...thì không

được nắn bó bột, mà phải báo ngay cho bác sỹ trực cấp cứu ngoại khoa XỬ TRÍ.

 + Nhịp thở: bình thường nhịp thở người lớn 16-20 lần/1 phút. Nếu nhịp

thở bất thường cũng không được làm thủ thuật nắn bó bột, phải báo bác sỹ ngay.

 + Có rối loạn cơ tròn không (khi gẫy cột sống): nếu có, nghĩ đến tổn

thương đứt tủy, dập tủy, choáng tủy.

- Có tổn thương phối hợp không.

 + Tổn thương ở các tạng khác: sọ não (tri giác), ngực (khó thở, rối loạn

nhịp thở), bụng (đau bụng, chướng bụng, bí trung đại tiện...), tiết niệu (đái máu,

không tiểu tiện tự chủ được...).

 

 + Tổn thương ở các chi khác (có thể 1 chân hoặc tay bị gẫy trong tình

trạng nặng có thể làm chúng ta quên hoặc bỏ sót các tổn thương ở các chi còn

lại).

1.2. Tại chi gẫy: cần thăm khám

- Gẫy hở hay gẫy kín.

- Mầu sắc của chi gẫy. Nếu mầu da hồng là tốt.

- Nhiệt độ chi gẫy. Nếu sờ thấy ấm là tốt.

- Bắt mạch chi gẫy (ở tay: bắt mạch quay, ở chân: bắt mạch mu chân hoặc

chầy sau ở ống gót, phía sau mắt cá trong).

- Tình trạng cử động và cảm giác của chi gẫy: rất quan trọng, đôi khi

người bệnh chỉ thấy cảm giác tê chân, đó cũng có thể là dấu hiệu của tổn thương

mạch máu, chứ không chỉ là biểu hiện của tổn thương thần kinh đơn thuần.

Nếu có nghi ngờ tổn thương mạch máu hoặc thần kinh thì không được bó

bột, mà chỉ làm tối thiểu: máng bột, nẹp bột, bất động nhanh và tối thiểu để

chuyển đến cơ sở cấp cứu ngoại khoa cho bác sỹ trực mổ cấp cứu.

2. Bó bột đúng nguyên tắc và đúng chỉ định. Các tiêu chí cụ thể là:

- Bó bột theo đúng các mốc đã được quy định đối với cụ thể từng loại bột.

- Bột bó thành một khối vững chắc (nhất là các loại bột lớn phải bó nhiều

thì).

- Bất động chi gẫy phải trên 1 khớp, dưới 1 khớp (trừ 1 vài trường hợp

đặc biệt).

- Không tỳ đè (đặc biệt vùng khớp, phải đệm lót nhiều để tránh loét).

- Đủ độ dầy: tùy loại bột cụ thể, thường trung bình từ 5-8 lớp.

- Không chặt quá (gây chèn ép bột), không lỏng quá (không có tác dụng

bất động).

- Bó đều tay (không lồi, không lõm bột).

- Bột cấp cứu (dưới 7 ngày): phải rạch dọc bột, rạch không bỏ sót dù chỉ

là 1 sợi gạc (chỉ có các loại bột không rạch dọc là: Minerve, Cravate, Corset,

Ngực-vai-cánh tay, bột Cẳng-bàn chân ôm gối; nhưng phải độn lót dầy. Các loại

bột rạch dọc từ gốc chi trở xuống là: Chữ U, Chậu-lưng-chân, Ngực-chậu-lưng

chân).

3. Tổ chức khám kiểm tra bột, phát hiện sớm và XỬ TRÍ kịp thời các tai

biến.

3.1. Tổ chức kiểm tra bột.

- Thời gian nào kiểm tra: thường là 24 giờ, nặng thì 12 giờ, thậm chí từng

giờ.

 

- Khám kiểm tra những gì?

 + Bột bó có đúng quy định chưa, có bị gẫy bột hoặc long lở bột ra không?

 + Tình trạng chi gẫy (lưu ý vùng ngoại vi như bàn ngón chân, bàn ngón

tay): ngoài các điểm như phần thăm khám chi gẫy đã nói ở phần trên, cần xem:

 * Có đỡ đau hơn trước khi bó bột không? Nếu đau tăng lên cần kiểm tra

cẩn thận.

 * Có phỏng nước không? Phỏng nước sớm: có rối loạn dinh dưỡng nặng.

 * Với trẻ em: có quấy khóc không? Nếu quấy khóc, cần phải xem xét kỹ.

Họ tên*
Email*
Bình luận*
dv2
dv3
dv3
dv4
dv6